Nâng cao Chỉ số Đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) của tỉnh Quảng Trị: Thực trạng và giải pháp
1. Khung chỉ số PII năm 2025
Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII - Provincial Innovation Index) phản ánh bức tranh thực tế, tổng thể về hiện trạng mô hình phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KH,CN&ĐMST) của từng địa phương, qua đó cung cấp căn cứ và bằng chứng về điểm mạnh, điểm yếu, về các yếu tố tiềm năng và các điều kiện cần thiết để thúc đẩy phát triển KT-XH dựa trên KH,CN&ĐMST của từng địa phương, giúp lãnh đạo của địa phương có cơ sở khoa học và thực tiễn để xác định, lựa chọn các định hướng, giải pháp phù hợp cho phát triển KT-XH của địa phương dựa trên KH,CN&ĐMST.
Khung chỉ số PII năm 2025 được phê duyệt tại Quyết định số 989/QĐ-BKHCN ngày 27/5/2025 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, gồm 52 chỉ số thành phần, chia làm 7 trụ cột:
05 trụ cột đầu vào phản ánh những yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển KT-XH dựa trên KH,CN&ĐMST, bao gồm: (1) Thể chế. (2) Vốn con người và Nghiên cứu và Phát triển. (3) Cơ sở hạ tầng. (4) Trình độ phát triển của thị trường và (5) Trình độ phát triển của doanh nghiệp;
02 trụ cột đầu ra phản ánh kết quả tác động của KH,CN&ĐMST vào phát triển KT-XH, bao gồm: (6) Sản phẩm tri thức, sáng tạo và công nghệ. (7) Tác động.
Dữ liệu phục vụ tính toán chỉ số PII 2025 được thu thập từ hai nguồn chính. Nguồn thứ nhất từ số liệu thống kê, quản lý nhà nước được công bố chính thức từ các Bộ, cơ quan quản lí nhà nước, tổ chức ở trung ương (có 39/52 chỉ số) và nguồn thứ hai do các địa phương thu thập và cung cấp - kèm theo các tài liệu minh chứng (có 13/52 chỉ số).
2. Kết quả chỉ số PII tỉnh Quảng Trị năm 2025
2.1. Kết quả chung
Kết quả chỉ số PII tỉnh Quảng Trị năm 2025 đạt 34,09 điểm, xếp hạng 27/34 tỉnh, thành phố trên cả nước. Điểm số đầu vào đổi mới sáng tạo và đầu ra đổi mới sáng tạo lần lượt là 37,15 điểm và 31,02 điểm. Kết quả này thấp hơn trung bình chung của cả nước ở hai khía cạnh đầu vào và đầu ra của đổi mới sáng tạo; kết quả 7 trụ cột của tỉnh Quảng Trị đều thấp hơn điểm số trung bình của cả nước.
Hình 1: So sánh điểm số 7 trụ cột PII 2025 của Quảng Trị với trung bình cả nước
Qua biểu đồ hình 1 trên cho thấy, điểm số đầu ra đổi mới sáng tạo (31,02 điểm) thấp hơn so với điểm số đầu vào đổi mới sáng tạo (37,15 điểm), điều này thể hiện việc sử dụng đầu vào đổi mới sáng tạo để chuyển thành đầu ra đổi mới sáng tạo chưa đạt hiệu quả cao.
Trong 07 trụ cột, trụ cột 1 (Thể chế) có điểm số cao nhất với 51,47 điểm, tiếp theo là trụ cột 7 (Tác động) với 41,62 điểm, trụ cột 3 (Cơ sở hạ tầng) có số điểm số cao thứ 3 với 41,06 điểm. Ngược lại, trụ cột 6 (Sản phẩm tri thức sáng tạo và công nghệ) có điểm số thấp nhất trong 7 trụ cột (20,41 điểm), trụ cột 5 (Trình độ phát triển của doanh nghiệp) có số điểm thấp thứ 2 với 25,96 điểm.
Hình 2. Điểm số các trụ cột PII 2025 của tỉnh Quảng Trị
2.2. Kết quả theo nhóm thu nhập
Nhìn chung, điểm số PII 2025 của các địa phương có tương quan với nhóm thu nhập bình quân đầu người. Các địa phương có thu nhập bình quân đầu người ở mức cao đạt điểm trung bình cao nhất với 50,09 điểm. Các địa phương có thu nhập bình quân đầu người ở trung bình đạt 38,57 điểm, các địa phương có thu nhập bình quân đầu người ở mức thấp đạt 33,03 điểm. Với mức thu nhập bình quân đầu người năm 2024 là 4,04 triệu đồng/người/tháng, Quảng Trị được xếp vào nhóm các địa phương có thu nhập bình quân đầu người ở mức trung bình.
Trong nhóm thu nhập trung bình, Quảng Trị xếp hạng 10/11 và có 01/07 trụ cột có điểm số cao hơn điểm trung bình của nhóm (trụ cột 2. Vốn con người và NCPT). Điểm số PII năm 2025 của tỉnh Quảng Trị (34,09 điểm) thấp hơn điểm trung bình của nhóm các tỉnh thu nhập trung bình (38,57 điểm) là 4,48 điểm.
Hình 3. Biểu đồ so sánh nhóm thu nhập bình quân đầu người trên cả nước
3. Một số điểm mạnh, điểm yếu trong PII của tỉnh Quảng Trị
3.1. Điểm mạnh
Từ kết quả PII năm 2025 cho thấy, tỉnh Quảng Trị có một số chỉ số thành phần nằm trong nhóm 10 địa phương có điểm số cao nhất cả nước (điểm mạnh), đồng thời cũng có một số chỉ số thuộc nhóm 10 địa phương có điểm số thấp nhất (điểm yếu). Cụ thể như sau:
Qua bảng 1 cho thấy, chỉ số “Chính sách thúc đẩy KH,CN&ĐMST phục vụ phát triển KT-XH” đạt điểm tuyệt đối (100,00; xếp hạng 1/34) phản ánh rõ vai trò dẫn dắt của thể chế, cho thấy địa phương đã thiết lập được khung chính sách tương đối hoàn chỉnh và có khả năng điều phối hiệu quả các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây là lợi thế nền tảng, đóng vai trò là điều kiện đầu vào quan trọng nhất trong mô hình PII, tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động đổi mới sáng tạo phát triển. Đối với nhóm chỉ số đầu ra, kết quả về “Đơn đăng ký nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận/10.000 dân” (65,79 điểm; xếp hạng 6/34) cho thấy hoạt động phát triển tài sản trí tuệ đã có chuyển biến tích cực, đặc biệt trong việc xây dựng và bảo hộ các sản phẩm đặc thù địa phương. Đồng thời, chỉ số “Tốc độ tăng năng suất lao động” đạt 66,53 điểm (xếp hạng 7/34) phản ánh hiệu quả bước đầu của việc ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất, góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế. Cuối cùng, chỉ số “Tỷ lệ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo” (33,18 điểm; xếp hạng 9/34) cho thấy hệ sinh thái khởi nghiệp của tỉnh đã bắt đầu hình thành, dù quy mô còn hạn chế, nhưng đã xuất hiện các yếu tố nền tảng cho đổi mới sáng tạo trong khu vực doanh nghiệp.
3.2. Điểm yếu
Bên cạnh những kết quả đạt được, nhiều chỉ số thành phần của tỉnh vẫn nằm trong nhóm thấp của cả nước. Cụ thể, chỉ số “Hạ tầng số” đạt 36,83 điểm (xếp hạng 27/34), cho thấy mức độ sẵn sàng về công nghệ còn thấp, hạn chế khả năng triển khai các hoạt động về chuyển đổi số. Chỉ số “Đầu tư trực tiếp của nước ngoài” chỉ 2,42 điểm (xếp hạng 27/34), phản ánh hiệu quả thu hút nguồn lực bên ngoài chưa cao. Chỉ số “Tính năng động của chính quyền địa phương” đạt 41,87 điểm (xếp hạng 27/34) và “Thiết chế pháp lý, an ninh trật tự” đạt 39,09 điểm (xếp hạng 28/34) cho thấy khoảng cách giữa ban hành chính sách và hiệu quả thực thi còn tồn tại.
Liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, các chỉ số phản ánh quy mô và năng lực của doanh nghiệp còn hạn chế. Chỉ số “Giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp” đạt 15,44 điểm (xếp hạng 28/34); chỉ số “Vốn SXKD bình quân hàng năm của các doanh nghiệp” đạt 6,14 điểm (xếp hạng 30/34), phản ánh quy mô và năng lực tích lũy vốn của doanh nghiệp còn hạn chế. Chỉ số “Giá trị xuất khẩu” đạt 6,65 điểm (xếp hạng 28/34); chỉ số “Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp” đạt 30,16 điểm (xếp hạng 30/34) cho thấy sự tác động các chính sách hỗ trợ đối với doanh nghiệp chưa cao, chưa thực sự tạo được động lực mạnh mẽ cho phát triển sản xuất, kinh doanh.
Trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo, chỉ số “Đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp” đạt 4,36 điểm (xếp hạng 28/34) và chỉ số “Đơn đăng ký nhãn hiệu/1.000 doanh nghiệp” xếp hạng 34/34, cho thấy nhu cầu và mức độ quan tâm của doanh nghiệp đối với việc xác lập quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt đối với kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu sản phẩm còn hạn chế. Bên cạnh đó, chỉ số “Hợp tác nghiên cứu giữa tổ chức KH&CN và doanh nghiệp” đạt 14,94 điểm (xếp hạng 29/34) và chỉ số “Tỷ lệ doanh nghiệp có chứng chỉ ISO/1.000 doanh nghiệp” đạt 8,79 điểm (xếp hạng 33/34) cho thấy mức độ liên kết và chuẩn hóa trong doanh nghiệp còn thấp, hạn chế khả năng hấp thụ và lan tỏa công nghệ.
Ngoài ra, chỉ số “Cơ sở hạ tầng chung” chỉ đạt 12,13 điểm (xếp hạng 32/34), phản ánh mức độ sẵn sàng về các loại hạ tầng đường bộ, hạ tầng điện năng, hạ tầng viễn thông, hạ tầng khu công nghiệp còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển và triển khai các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên địa bàn.
Tổng thể, các chỉ số trên cho thấy các hạn chế của tỉnh tập trung ở hạ tầng, thị trường, năng lực doanh nghiệp và liên kết đổi mới, dẫn đến khả năng chuyển hóa đầu vào đổi mới sáng tạo thành đầu ra chưa cao.
4. Một số giải pháp nâng cao Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương
Kết quả PII năm 2025 cho thấy sự phân hóa rõ rệt giữa các chỉ số thành phần, phản ánh sự mất cân đối giữa các trụ cột, đồng thời cho thấy dư địa cải thiện còn lớn. Điều này đòi hỏi các giải pháp mang tính tổng thể, đồng bộ và có trọng tâm trong thời gian tới.
Thứ nhất, cần tập trung triển khai hiệu quả Kế hoạch số 253/KH-UBND ngày 21/01/2026 của UBND tỉnh Quảng Trị về cải thiện và nâng cao Chỉ số PII tỉnh Quảng Trị năm 2026 và các năm tiếp theo. Các sở, ban, ngành, địa phương và đơn vị liên quan cần bám sát nhiệm vụ được phân công, phát huy các chỉ số có thứ hạng cao, đồng thời tập trung khắc phục các chỉ số còn thấp, triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm cải thiện toàn diện các chỉ số thành phần, qua đó nâng cao vị trí xếp hạng chung của tỉnh.
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo hướng đồng bộ, hiệu quả; lồng ghép mục tiêu cải thiện Chỉ số PII vào các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chương trình chuyển đổi số và chiến lược phát triển khoa học và công nghệ của tỉnh, bảo đảm tính thống nhất và khả năng triển khai trên thực tế.
Thứ ba, tập trung đầu tư phát triển hạ tầng phục vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đặc biệt là hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số và logistics; đồng thời nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua việc tăng tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ. Cùng với đó, cần thúc đẩy liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới sáng tạo của địa phương.
Thứ tư, đẩy mạnh phát triển mô hình liên kết “viện - trường - doanh nghiệp” nhằm cải thiện trực tiếp chỉ số hợp tác nghiên cứu giữa tổ chức khoa học và công nghệ với doanh nghiệp, đồng thời gián tiếp nâng cao các chỉ số về doanh nghiệp có hoạt động đổi mới, tiêu chuẩn hóa (ISO) và phát triển tài sản trí tuệ. Việc tăng cường liên kết sẽ góp phần hình thành cơ chế chuyển giao tri thức và công nghệ hiệu quả, nâng cao năng lực hấp thụ, đổi mới và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Thứ năm, triển khai các chính sách thu hút đầu tư theo hướng có chọn lọc, ưu tiên các dự án công nghệ cao, thân thiện môi trường và có khả năng lan tỏa. Đồng thời, cần tăng cường các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực tích lũy vốn, tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, qua đó nâng cao năng suất và sức cạnh tranh trên thị trường.
Thứ sáu, cần duy trì và nâng cao thứ hạng các chỉ số nền tảng có ảnh hưởng trực tiếp đến PII như PAR Index, PAPI, DTI; đồng thời tập trung cải thiện các chỉ số thành phần còn thấp, bảo đảm sự cân bằng, bền vững và hiệu quả giữa các trụ cột trong hệ thống đánh giá.
Việc nâng cao Chỉ số PII không chỉ là nhiệm vụ riêng của ngành khoa học và công nghệ mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị. Với quyết tâm cao và sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, các ngành cùng cộng đồng doanh nghiệp, tỉnh Quảng Trị hoàn toàn có khả năng cải thiện đáng kể vị trí xếp hạng PII trong những năm tới, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững./.
ThS. PHẠM THANH NAM
Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị
Nguồn: Đặc san Khoa học và Công nghệ
- Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo chuyển biến tích cực theo Nghị quyết 57 (21/05/2026)
- Việt Nam lần đầu vào Top 50 hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu (21/05/2026)
- Hải Phòng lần đầu vào Top 1000 hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu: Trái ngọt từ hành trình kiến tạo bền bỉ (21/05/2026)
- Viện Hàn lâm công bố 112 công nghệ sẵn sàng chuyển giao (21/05/2026)
- Đưa thêm hơn 100 công nghệ sẵn sàng chuyển giao lên sàn quốc gia (20/05/2026)
- TP HCM lần đầu vào top 100 hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu (20/05/2026)
- Thủ tướng: Khoa học công nghệ cần chuyển tư duy 'làm cho có' sang 'thực chất' (18/05/2026)
- 70 công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển (18/05/2026)
- Triển lãm sách khoa học và công nghệ 2026 lan tỏa tri thức kiến tạo quốc gia số (15/05/2026)
- Ứng dụng Việt báo lượng mưa được hàng chục nghìn người sử dụng (14/05/2026)
















