Nghiên cứu điều tra phân tích nhu cầu ứng dụng công nghệ thông qua khai thác sáng chế trong khai thác và bảo quản hải sản
Việt Nam là quốc gia biển lớn trong vùng Biển Đông, được đánh giá là một trong 10 trung tâm đa dạng sinh học biển và một trong 20 vùng biển có nguồn lợi thủy sản phong phú nhất thế giới. Tuy nhiên, hoạt động khai thác và bảo quản hải sản vẫn còn nhiều hạn chế, với phương thức sản xuất chủ yếu mang tính thủ công, thiết bị và công nghệ còn lạc hậu, năng suất và chất lượng sản phẩm chưa cao, tổn thất sau khai thác còn lớn. Trong khi đó, khả năng tiếp cận công nghệ tiên tiến và nguồn lực đầu tư của ngư dân còn hạn chế, đặt ra yêu cầu cấp thiết về ứng dụng và đổi mới công nghệ trong lĩnh vực này.

Trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là động lực quan trọng để nâng cao hiệu quả khai thác, bảo quản và giá trị hải sản. Từ thực tiễn trên, nhóm nghiên cứu của ThS. Đỗ Thị Thùy Dương tại Viện Nghiên cứu sáng chế và khai thác công nghệ đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu điều tra phân tích nhu cầu ứng dụng công nghệ thông qua khai thác sáng chế trong khai thác và bảo quản hải sản” từ năm 2022-2023.
Đề tài nhằm mục tiêu làm rõ thực trạng về ứng dụng công nghệ và khai thác sáng chế trong lĩnh vực khai thác hải sản trên biển và bảo quản hải sản của các tàu cá; và nghiên cứu, khảo sát điều tra các tỉnh có tiềm năng về ứng dụng công nghệ trong khai thác và bảo quản hải sản.
Nghiên cứu đã làm rõ vai trò của phân tích và khai thác sáng chế trong hỗ trợ ứng dụng, đổi mới công nghệ; đồng thời giới thiệu, phân tích đặc điểm và hướng dẫn khai thác hai cơ sở dữ liệu sáng chế lớn là Derwent Innovation và Orbit Intelligent. Trên cơ sở lựa chọn kết hợp chỉ số phân loại sáng chế quốc tế (IPC) và từ khóa, nghiên cứu đã xây dựng phương pháp tìm kiếm phù hợp, hạn chế sáng chế nhiễu và bảo đảm độ bao phủ cao.
Nghiên cứu đã làm rõ vai trò của phân tích và khai thác sáng chế trong hỗ trợ ứng dụng, đổi mới công nghệ, đồng thời giới thiệu và phân tích đặc điểm của hai cơ sở dữ liệu sáng chế lớn là Derwent Innovation và Orbit Intelligent. Trên cơ sở kết hợp chỉ số phân loại sáng chế quốc tế (IPC) và từ khóa, nhóm nghiên cứu đã xây dựng phương pháp tìm kiếm phù hợp, góp phần nâng cao độ chính xác và hạn chế các sáng chế không liên quan.
Kết quả đã xác định 23.629 họ sáng chế trong lĩnh vực công nghệ khai thác hải sản, trong đó có 9.185 họ sáng chế phù hợp trong giai đoạn từ năm 2010 đến nay. Đối với lĩnh vực bảo quản hải sản trên tàu cá, phương pháp kết hợp IPC và từ khóa đã xác định được 513 họ sáng chế để phân tích. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã đánh giá xu hướng phát triển công nghệ, số lượng sáng chế, tình trạng pháp lý và mức độ phát triển công nghệ trên thế giới và tại Việt Nam giai đoạn 2010–2020.
Kết quả phân tích cho thấy công nghệ khai thác và bảo quản hải sản trên thế giới đã được nghiên cứu và đầu tư trong thời gian dài, hiện đang ở giai đoạn phát triển tương đối cao và có xu hướng tiệm cận bão hòa. Đáng chú ý, số lượng sáng chế đã hết hoặc bị từ bỏ hiệu lực bảo hộ tương đối lớn, tạo nguồn tài sản trí tuệ có tiềm năng để khai thác, chuyển giao và ứng dụng. Trong khi đó, hoạt động sáng chế và năng lực công nghệ của Việt Nam còn hạn chế, số lượng sáng chế thấp hơn đáng kể so với thế giới, mặc dù xu hướng công nghệ nhìn chung phù hợp với xu hướng phát triển chung.
Về thực trạng ứng dụng, một số địa phương đã bước đầu áp dụng các công nghệ mới, tiên tiến trong khai thác và bảo quản hải sản, nhưng phạm vi ứng dụng còn hạn chế; phần lớn thiết bị, công nghệ vẫn ở mức cũ, lạc hậu, phản ánh trình độ sản xuất của ngành còn giữa thủ công và bán công nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy cần tăng cường cung cấp thông tin công nghệ, khai thác hiệu quả nguồn sáng chế, thúc đẩy chuyển giao và hỗ trợ đổi mới công nghệ, qua đó nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị và khả năng cạnh tranh của sản phẩm hải sản Việt Nam.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 21974/2023) tại Cục Thông tin, Thống kê.
https://vista.gov.vn/vi/news/ket-qua-nghien-cuu-trien-khai/nghien-cuu-dieu-tra-phan-tich-nhu-cau-ung-dung-cong-nghe-thong-qua-khai-thac-sang-che-trong-khai-thac-va-bao-quan-hai-san-13353.html
- Chính sách thúc đẩy đầu tư các nguồn lực tài chính nhằm thực hiện chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia của Việt Nam (18/09/2026)
- Nghiên cứu ứng dụng Mô hình thông tin công trình trong lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật (giao thông đô thị và cấp thoát nước) tại Việt Nam (18/09/2026)
- Nghiên cứu thiết kế chế tạo thiết bị định vị chính xác sử dụng trong giám sát máy công trình (22/08/2026)
- Nghiên cứu tổng hợp chế phẩm citrat đất hiếm và ứng dụng làm chất bổ sung cho thức ăn nuôi gà thịt (22/08/2026)
- Nghiên cứu hoàn thiện chính sách định mức kinh tế chi phí cho bảo vệ môi trường và giá dịch vụ trong xử lý chất thải rắn sinh hoạt (22/08/2026)
- Xác định tổng lượng điện tử tự do (TEC) lượng hơi nước tích tụ (PWV) từ dữ liệu GNSS trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam (22/08/2026)
- Thương mại nông sản giữa Việt Nam và Trung Quốc trong bối cảnh mới (22/08/2026)
- Nghiên cứu và phát triển một số giống bông xơ màu và xơ chất lượng cao (22/08/2026)
- Ứng dụng công nghệ sinh học chọn giống cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) kháng bệnh gan thận mủ (14/08/2026)
- Xây dựng bộ tiêu chí cảnh báo trượt lở đất đá, lũ quét cho khu vực miền núi, trung du Việt Nam (14/08/2026)















