Gắn nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với thực tiễn sản xuất và đời sống
Trong bối cảnh phát triển kinh tế tri thức và chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng khẳng định vai trò là động lực then chốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đối với tỉnh Quảng Trị, địa phương có quy mô kinh tế còn khiêm tốn, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt nhưng sở hữu nhiều tiềm năng về tài nguyên, nông nghiệp và năng lượng, việc phát huy vai trò của khoa học và công nghệ, đặc biệt là gắn kết chặt chẽ với nhu cầu thực tiễn của sản xuất và đời sống, có ý nghĩa hết sức quan trọng.

TS. Đặng Ngọc Tuấn, TUV, Giám đốc Sở KH&CN tỉnh Quảng Trị phát biểu tại phiên họp Hội đồng nghiệm thu nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh: “Nghiên cứu, khôi phục và phát triển nguồn gen cá Chình mun (Anguilla bicolor) phục vụ phát triển kinh tế”. Ảnh: Văn Chung.
Thực tiễn thời gian qua cho thấy, nhiều nhiệm vụ khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh bước đầu hướng vào giải quyết các vấn đề cụ thể như: ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp, phát triển sản phẩm chủ lực, nâng cao giá trị nông sản, bảo quản và chế biến sau thu hoạch, cũng như thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý và sản xuất. Tuy nhiên, vẫn còn không ít nhiệm vụ chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu thị trường, thiếu sự tham gia của doanh nghiệp và người dân ngay từ khâu đề xuất, dẫn đến kết quả nghiên cứu chậm được ứng dụng hoặc khó nhân rộng. Trên thực tế, nếu nghiên cứu khoa học không bám sát nhu cầu của doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân thì khó tạo ra giá trị thực tiễn và hiệu quả kinh tế - xã hội rõ nét. Ngược lại, khi các nhiệm vụ khoa học và công nghệ được đặt hàng từ thực tiễn, gắn với sản phẩm cụ thể, chuỗi giá trị rõ ràng và có sự tham gia của các chủ thể liên quan ngay từ đầu, thì hiệu quả ứng dụng và khả năng lan tỏa được nâng cao đáng kể. Đây chính là hướng đi quan trọng để nâng cao hiệu quả đầu tư cho khoa học và công nghệ, đồng thời góp phần giải quyết các bài toán phát triển của tỉnh trong giai đoạn tới.

Sở KH&CN tỉnh Quảng Trị kiểm tra dự án: “Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ xây dựng mô hình trồng chanh không hạt (Citrus latifolia) theo tiêu chuẩn VietGap”. Ảnh: Ánh Ngọc.
Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã có nhiều chuyển biến tích cực cả về quy mô, chất lượng và định hướng nghiên cứu. Các nhiệm vụ khoa học và công nghệ ngày càng bám sát hơn với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, tập trung vào một số lĩnh vực trọng tâm như: Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp, đặc biệt là nghiên cứu, tuyển chọn giống cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện sinh thái; áp dụng các quy trình canh tác tiên tiến, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn; phát triển các sản phẩm đặc trưng, sản phẩm OCOP gắn với lợi thế địa phương, góp phần nâng cao giá trị gia tăng và xây dựng thương hiệu nông sản; nghiên cứu, ứng dụng công nghệ bảo quản, chế biến sau thu hoạch nhằm giảm tổn thất và nâng cao chất lượng sản phẩm; ứng dụng công nghệ thông tin, thúc đẩy chuyển đổi số trong hoạt động quản lý nhà nước, cải cách hành chính và hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh; khoa học xã hội và nhân văn được quan tâm triển khai với các nghiên cứu về văn hóa, lịch sử, phát triển nguồn nhân lực, giảm nghèo bền vững, bảo tồn và phát huy giá trị di sản, góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho công tác hoạch định chính sách và phát triển xã hội của tỉnh; khoa học y dược có những bước tiến trong nghiên cứu ứng dụng các bài thuốc y học cổ truyền, phát triển dược liệu bản địa, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Nhiều kết quả nghiên cứu đã được ứng dụng vào thực tiễn, hình thành các mô hình sản xuất hiệu quả, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, cải thiện thu nhập cho người dân, đồng thời hỗ trợ tích cực cho công tác quản lý nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Sở KH&CN tỉnh Quảng Trị kiểm tra tiến độ nhiệm vụ KH&CN “Tuyển chọn và phát triển một số giống vừng năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với điều kiện sinh thái tỉnh Quảng Bình”. Ảnh: Văn Chung.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động khoa học và công nghệ của tỉnh vẫn còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế cần được nhìn nhận một cách đầy đủ và sâu sắc đó là:
(1) Tính định hướng thị trường của một số nhiệm vụ chưa cao: Một bộ phận nhiệm vụ nghiên cứu vẫn còn nặng về tiếp cận “từ phía cung”, chưa xuất phát đầy đủ từ nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp và thị trường, dẫn đến sản phẩm nghiên cứu khó thương mại hóa hoặc chậm được ứng dụng rộng rãi.
(2) Liên kết trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo còn lỏng lẻo: Sự gắn kết giữa nhà khoa học - doanh nghiệp - người dân chưa thực sự chặt chẽ và hiệu quả. Doanh nghiệp chưa đóng vai trò trung tâm trong đặt hàng và ứng dụng kết quả nghiên cứu; cơ chế hợp tác, chia sẻ lợi ích giữa các bên còn thiếu rõ ràng.
(3) Hiệu quả ứng dụng và nhân rộng kết quả nghiên cứu còn hạn chế: Nhiều mô hình sau nghiệm thu chưa được tiếp tục hỗ trợ để nhân rộng; thiếu các chính sách và nguồn lực để “đưa kết quả nghiên cứu ra khỏi phòng thí nghiệm” và phát triển thành sản phẩm hàng hóa quy mô lớn.
(4) Doanh nghiệp tham gia hoạt động khoa học và công nghệ còn hạn chế: Số lượng doanh nghiệp có hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) còn ít; năng lực hấp thụ công nghệ chưa cao; việc đầu tư cho đổi mới sáng tạo còn dè dặt do rủi ro và thiếu cơ chế khuyến khích đủ mạnh.
(5) Chất lượng và tính liên ngành của một số nghiên cứu chưa cao: Một số nhiệm vụ còn dàn trải, thiếu chiều sâu; chưa hình thành được các nghiên cứu mang tính liên ngành, tích hợp giữa khoa học tự nhiên, kỹ thuật với khoa học xã hội và nhân văn để giải quyết các vấn đề phức hợp của địa phương.
(6) Các nghiên cứu về xã hội nhân văn tuy có ý nghĩa về mặt lý luận và chính sách nhưng mức độ gắn kết với triển khai thực tiễn còn chưa cao; thiếu cơ chế chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành các chương trình, đề án cụ thể phục vụ quản lý và phát triển xã hội.
(7) Công tác quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ còn một số bất cập: Quy trình đặt hàng, tuyển chọn nhiệm vụ có lúc chưa thật sự linh hoạt; cơ chế tài chính còn mang tính hành chính; chưa tạo được môi trường thuận lợi để khuyến khích sáng tạo và chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu.
Những tồn tại, hạn chế nêu trên đòi hỏi cần có những giải pháp đồng bộ, mạnh mẽ hơn trong thời gian tới nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đặc biệt là tăng cường gắn kết với nhu cầu thực tiễn của sản xuất và đời sống trên địa bàn tỉnh. Trong bối cảnh cả nước đang triển khai mạnh mẽ các chủ trương, định hướng lớn của Đảng và Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đặc biệt là yêu cầu đổi mới căn bản phương thức tổ chức và vận hành hoạt động khoa học theo hướng lấy thị trường làm trung tâm, lấy doanh nghiệp làm chủ thể, tỉnh Quảng Trị cần có sự chuyển đổi mạnh mẽ trong tư duy và cách tiếp cận. Trọng tâm là chuyển từ “nghiên cứu theo khả năng” sang “nghiên cứu theo nhu cầu”, từ cách làm thiên về cung sang định hướng cầu, bảo đảm các nhiệm vụ khoa học và công nghệ thực sự xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn sản xuất, đời sống và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Để thực hiện được định hướng này, cần đặt ra một số yêu cầu mang tính nền tảng và xuyên suốt như sau:
(1) Lấy doanh nghiệp và người dân làm trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo: Doanh nghiệp phải thực sự trở thành chủ thể của quá trình đổi mới sáng tạo, tham gia từ khâu đề xuất, đặt hàng, tổ chức thực hiện đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Người dân, đặc biệt là khu vực nông thôn, hợp tác xã, cần được xác định là đối tượng thụ hưởng trực tiếp, đồng thời cũng là chủ thể tham gia ứng dụng và lan tỏa các tiến bộ khoa học và công nghệ.
(2) Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm thước đo chủ yếu của nhiệm vụ khoa học và công nghệ: Việc đánh giá nhiệm vụ khoa học cần chuyển mạnh từ “đánh giá theo sản phẩm khoa học” sang “đánh giá theo hiệu quả ứng dụng và tác động thực tiễn”. Các nhiệm vụ phải chứng minh được giá trị gia tăng mang lại, như: nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân, hoặc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu quả đầu tư công cho khoa học và công nghệ.
(3) Gắn nghiên cứu khoa học với chuỗi giá trị sản phẩm và các ngành, lĩnh vực ưu tiên của tỉnh: Các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cần được thiết kế theo hướng tiếp cận chuỗi giá trị, từ nghiên cứu, sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm, thay vì dừng lại ở các khâu đơn lẻ. Đối với Quảng Trị, cần ưu tiên các chuỗi giá trị có tiềm năng và lợi thế như: nông nghiệp công nghệ cao, dược liệu, chế biến nông - lâm - thủy sản, năng lượng tái tạo và vật liệu mới từ cát silic. Việc gắn nghiên cứu với chuỗi giá trị không chỉ nâng cao hiệu quả ứng dụng mà còn góp phần hình thành các ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.
(4) Đổi mới phương thức đề xuất và đặt hàng nhiệm vụ: Xây dựng cơ chế đặt hàng từ thực tiễn, xuất phát từ nhu cầu của doanh nghiệp, hợp tác xã và địa phương; tăng cường vai trò của doanh nghiệp trong việc đề xuất, tham gia và đồng tài trợ nhiệm vụ khoa học; ưu tiên các nhiệm vụ gắn với sản phẩm chủ lực và có khả năng thương mại hóa cao.
(5) Tăng cường liên kết “4 nhà”: thúc đẩy liên kết giữa Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp - Người dân; hình thành các mô hình hợp tác nghiên cứu - sản xuất - tiêu thụ;
(6) Đẩy mạnh ứng dụng và nhân rộng kết quả nghiên cứu: xây dựng cơ chế hỗ trợ chuyển giao công nghệ và nhân rộng mô hình hiệu quả; gắn nhiệm vụ khoa học với chương trình nông thôn mới, chương trình OCOP…
(7) Đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động khoa học và công nghệ: chuyển đổi số cần được triển khai đồng bộ trong toàn bộ quá trình quản lý và thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, từ khâu đề xuất, tuyển chọn, tổ chức thực hiện, nghiệm thu đến chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Đồng thời, cần xây dựng và khai thác hiệu quả các cơ sở dữ liệu khoa học và công nghệ, nền tảng số kết nối cung – cầu công nghệ, qua đó nâng cao tính minh bạch, hiệu quả quản lý và khả năng lan tỏa của các kết quả nghiên cứu. Việc ứng dụng công nghệ số cũng góp phần hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận nhanh hơn với các tiến bộ khoa học và công nghệ.
(8) Tăng cường tính liên ngành và tích hợp trong nghiên cứu khoa học: Các vấn đề phát triển của Quảng Trị ngày càng mang tính tổng hợp, đòi hỏi sự kết hợp giữa khoa học tự nhiên, kỹ thuật với khoa học xã hội và nhân văn. Do đó, cần khuyến khích các nhiệm vụ nghiên cứu liên ngành, tích hợp nhiều lĩnh vực để giải quyết đồng bộ các vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường và quản trị phát triển.
(9) Hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo: Cần tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý nhiệm vụ khoa học theo hướng linh hoạt, giảm thủ tục hành chính, tăng quyền tự chủ cho tổ chức và cá nhân chủ trì; đồng thời có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, chấp nhận rủi ro trong đổi mới sáng tạo và thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
(10) Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ: đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật cơ sở và nhân lực cho doanh nghiệp; khuyến khích thu hút chuyên gia, nhà khoa học tham gia giải quyết các bài toán lớn của tỉnh.
Gắn nghiên cứu khoa học với nhu cầu thực tiễn của sản xuất và đời sống là xu hướng tất yếu và là yêu cầu cấp bách đối với tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn hiện nay. Để thực hiện hiệu quả, cần có sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, các ngành, doanh nghiệp và người dân, trong đó khoa học và công nghệ phải thực sự trở thành động lực phát triển. Trong thời gian tới, với quyết tâm đổi mới mạnh mẽ, tin tưởng rằng hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của tỉnh Quảng Trị sẽ ngày càng gắn bó chặt chẽ với thực tiễn, đóng góp tích cực vào sự phát triển nhanh và bền vững của địa phương./.
ThS. Đào Ngọc Hoàng
Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị
Nguồn: Đặc san Khoa học và Công nghệ
- Việt Nam lần đầu vào Top 50 hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu (21/05/2026)
- Động lực chính của mô hình tăng trưởng mới (19/05/2026)
- Hội thảo khoa học: “Đổi mới quản lý, nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo theo Nghị quyết số 57-NQ/TW, Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 và các quy định mới” (15/05/2026)
- Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức lớp bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng số cho cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh Quảng Trị (13/05/2026)
- Nghiệm thu cấp tỉnh nhiệm vụ KH&CN: “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về khu thương mại tự do, đề xuất một số cơ chế, chính sách áp dụng tại khu thương mại tự do thuộc khu kinh tế thương mại xuyên biên giới chung Lao Bảo - Densavan và khu vực cảng Mỹ Thủy thuộc khu kinh tế Đông Nam” (13/05/2026)
- Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược (11/05/2026)
- Tăng tốc phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số và Đề án 06 trong năm 2026 (07/05/2026)
- Hưởng ứng Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam (18/5) (07/05/2026)
- Hội thảo “Đổi mới quản lý, nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo theo Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị; Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và các quy định mới”. (06/05/2026)
- Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức Hội thi Báo cáo viên, tuyên truyền viên giỏi năm 2026 (29/04/2026)
















