Nghiên cứu và phát triển một số giống bông xơ màu và xơ chất lượng cao

Font size : A- A A+

Cây bông (Gossypium malvacearum L.) là cây lấy sợi quan trọng nhất được xếp vào vị trí hàng đầu trên thế giới bởi những đặc tính tự nhiên của nó như mềm, xoăn tự nhiên, giữ nhiệt tốt…Bởi thế bông là loại cây trồng không thể thay thế mặc dù có sự cạnh tranh cao của sợi tổng hợp nhân tạo. Hiện nay trên thế giới, cây bông được trồng ở hơn 80 quốc gia, với diện tích hàng năm khoảng 31 - 32 triệu ha và sản lượng đạt khoảng 24 - 25 triệu tấn bông xơ, có giá trị trên 20 tỷ USD (USDA, 2021). Theo đánh giá của Hiệp hội Tư vấn Bông thế giới (ICAC, 2021), trong 10 năm trở lại đây bình quân năng suất và giá bông xơ có tăng nhưng với tốc độ chậm so với xu hướng tăng ngày càng nhanh của chí phí sản xuất do tăng giá vật tư đầu vào, chi phí lao động và một số chi phí thiết bị bổ sung và phụ trợ khác.

Một số hình ảnh nghiên cứu kỹ thuật canh tác cho giống bông thuần xơ màu BM20-1

Tại Việt Nam, phát triển bông hiện tại đang xuống rất thấp và không có xu thế tăng trong thời gian tới do chi phí sản xuất cao, hiệu quả sản xuất bông thấp và rủi ro cao, cây bông mất ưu thế cạnh tranh so với cây trồng khác. Trước thực tế trên, tăng giá trị đầu ra của sản phẩm bông và giảm chi phí sản xuất đầu vào hợp lý là giải pháp quan trọng để tăng khả năng cạnh tranh của cây bông nhằm khôi phục và phát triển bông trong nước; trong đó, sử dụng các giống bông xơ có màu tự nhiên với giá xơ gấp 2 - 2,5 lần so với bông xơ trắng giúp tăng giá trị đầu ra của nguyên liệu và sản phẩm dệt may; từ đó, tăng hiệu quả sản xuất, kích thích sản xuất bông phát triển. Mặt khác, chọn tạo các giống bông lai xơ trắng có năng suất cao, phẩm chất tốt và chống chịu được một số loại sâu bệnh hại chính nhằm góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ sâu bênh hại, đồng thời nâng cao thu nhập cho người trồng bông nhờ giảm chi phí đầu vào thuốc bảo vệ thực vật và nhân công phun thuốc.

Hiện tại, mặc dù chưa được khai thác đầy đủ, nhưng với thuận lợi về nguồn gen hiện có, khá phong phú về chủng loại và số lượng (hơn 2.100 mẫu giống); trong đó, có 75 mẫu giống bông xơ màu (gồm 66 mẫu giống bông xơ màu nâu và 9 mẫu giống bông xơ màu xanh lơ), 300 mẫu kháng rầy xanh chích hút (nhiều lông/ thân lá), hơn 250 mẫu chất lượng xơ tốt, 60 mẫu kháng cao đối với sâu đục quả và 20 mẫu giống kháng sâu đồng thời chống chịu thuốc trừ cỏ có thể dùng làm nguồn vật liệu khởi đầu tốt.

Xuất phát từ thực tiễn trên, Chủ nhiệm đề tài ThS. Nguyễn Văn Sơn cùng nhóm nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Bông và Phát triển nông nghiệp Nha Hố thực hiện “Nghiên cứu và phát triển một số giống bông xơ màu và xơ chất lượng cao” với mục tiêu: Xác định được một số giống bông xơ màu và xơ chất lượng cao; Hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác cho giống bông giới thiệu.

 

Sau thời gian nghiên cứu, đề tài đã thu được những kết quả như sau:

- Tuyển chọn giống bông thuần xơ màu và xơ chất lượng cao phục vụ cho hoàn thiện quy trình canh tác và mô hình trồng thử nghiệm: + Tuyển chọn được 01 giống bông thuần xơ màu BM20-1 có năng suất bông hạt trung bình đạt 2,23 tấn/ha; chất lượng xơ đạt tiêu chuẩn chất lượng cấp I Việt Nam với chiều dài xơ trung bình 28,6 mm, độ bền xơ trung bình 29,8 g/tex, độ mịn xơ trung bình 4,4 Mic.; chỉ số độ chín trung bình 0,90 và độ đồng đều xơ trung bình 86,9%; có khả năng kháng cao với sâu xanh đục quả với mật độ sâu xanh 0,3 con/100 cây

+ Tuyển chọn được 01 giống bông lai xơ chất lượng cao VN20-6 có năng suất bông hạt trung bình đạt 2,78 tấn/ha; chất lượng xơ đạt tiêu chuẩn chất lượng cấp I Việt Nam với chiều dài xơ trung bình 32,3 mm, độ bền xơ trung bình 33,3 g/tex, độ mịn xơ trung bình 4,0 Mic., chỉ số độ chín trung bình 0,94 và độ đồng đều xơ trung bình 86,9%; có khả năng kháng cao với sâu xanh đục quả với mật độ sâu xanh 0,1 con/100 cây.

- Nghiên cứu bổ sung hoàn thiện được quy trình kỹ thuật canh tác cho các giống bông thuần xơ màu BM20-1 và giống bông lai xơ chất lượng cao VN20-6 với các chỉ tiêu:

+ Đối với giống bông thuần xơ màu BM20-1: trồng mật độ 7,5 vạn cây/ha; bón phân với liều lượng 120kg N + 60kg P2O5 + 60kg K2O/ha và chia làm các lần bón: bón lót + thúc vào 3 giai đoạn 20 - 25 ngày sau gieo, 40 - 45 ngày sau gieo và 60 - 65 ngày sau gieo; phun PIX 3 lần: lần 1 vào lúc 50% số cây có nụ đầu tiên (khoảng 30 ngày sau khi gieo) với liều lượng 150 lít/ha, phun lần 2 sau khi lần 1 là 15 ngày với liều lượng 300 lít/ha, phun lần 3 sau lần 2 là 15 ngày với liều lượng tương ứng 450 lít/ha.

+ Đối với giống bông lai xơ chất lượng cao VN20-6: trồng mật độ 6,5 vạn cây/ha; bón phân với liều lượng 150kg N + 75kg P2O5 + 75kg K2O/ha và chia làm các lần bón: bón lót + thúc vào 3 giai đoạn 20 - 25 ngày sau gieo, 40 - 45 ngày sau gieo và 60 - 65 ngày sau gieo; phun PIX 3 lần: lần 1 vào lúc 50% số cây có nụ đầu tiên (khoảng 30 ngày sau khi gieo) với liều lượng 150 lít/ha, phun lần 2 sau khi lần 1 là 15 ngày với liều lượng 300 lít/ha, phun lần 3 sau lần 2 là 15 ngày với liều lượng tương ứng 450 lít/ha.

- Mô hình thử nghiệm giống bông thuần xơ màu và xơ chất lượng cao mới:

+ Xây dựng mô hình trồng thử nghiệm giống bông thuần xơ màu mới BM20-1 tại các tỉnh Ninh Thuận, Đắc Lắc, Sơn La và Điện Biên cho năng suất vượt 6,4 - 14,2% và hiệu quả kinh tế vượt > 100% so với mô hình đối chứng VN36P.KS.

+ Xây dựng mô hình trồng thử nghiệm giống bông lai xơ chất lượng cao mới VN20-6 tại các tỉnh Ninh Thuận, Đắc Lắc, Sơn La và Điện Biên cho năng suất vượt 11,0 - 19,8% và hiệu quả kinh tế vượt 12,6 - 33,9% so với mô hình đối chứng trồng các giống VN01-2 và VN04-4.

- Nhân đủ số lượng hạt giống bông thuần xơ màu và bông lai xơ chất lượng cao đủ cung cấp cho khảo nghiệm, nghiên cứu kỹ thuật canh tác và mô hình trồng thử.

Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 22132/2023) tại Cục Thông tin, Thống kê.

https://vista.gov.vn/vi/news/ket-qua-nghien-cuu-trien-khai/nghien-cuu-va-phat-trien-mot-so-giong-bong-xo-mau-va-xo-chat-luong-cao-13214.html

More