Ứng dụng công nghệ sinh học chọn giống cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) kháng bệnh gan thận mủ

Font size : A- A A+

Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) là một trong những đối tượng nuôi chủ lực của ngành thủy sản Việt Nam, được nuôi phổ biến tại Đồng bằng sông Cửu Long và giữ vai trò quan trọng trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng diện tích và sản lượng nuôi, nghề nuôi cá tra cũng phải đối mặt với nhiều loại dịch bệnh nguy hiểm, trong đó bệnh gan thận mủ do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây ra được xem là một trong những bệnh nghiêm trọng nhất. Bệnh thường xuất hiện ở cá dưới 4 tháng tuổi, làm giảm tỷ lệ sống và gây thiệt hại lớn cho người nuôi. Trong bối cảnh đó, việc ứng dụng công nghệ sinh học và dữ liệu hệ gen vào chọn giống cá tra kháng bệnh được xem là hướng nghiên cứu có nhiều triển vọng nhằm nâng cao chất lượng con giống và giảm phụ thuộc vào kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản.

Từ yêu cầu thực tiễn này, ThS. Trần Hữu Phúc cùng các cộng sự tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II đã thực hiện đề tài “Ứng dụng công nghệ sinh học chọn giống cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) kháng bệnh gan thận mủ” thuộc nhiệm vụ cấp quốc gia do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý. Mục tiêu của đề tài là chọn tạo đàn cá tra bố mẹ có khả năng kháng bệnh gan thận mủ, đồng thời duy trì tăng trưởng tốt qua các thế hệ. Đề tài cũng hướng tới xây dựng cơ sở dữ liệu về chỉ thị phân tử liên quan đến tính trạng kháng bệnh, tạo nền tảng cho các nghiên cứu chọn giống theo hệ gen trong tương lai.

Kết quả nghiên cứu cho thấy đề tài đã đạt được nhiều kết quả quan trọng:

• Sản xuất và đánh dấu PIT đại diện cho 147 gia đình cá tra phục vụ thí nghiệm cảm nhiễm bệnh gan thận mủ và đánh giá tăng trưởng.

• Xác định hệ số di truyền của tính trạng sống/chết ở nhiều ngưỡng khác nhau, cho thấy khả năng di truyền tính trạng kháng bệnh ở cá tra là khả thi.

• Xác định tương quan di truyền giữa tính trạng kháng bệnh gan thận mủ và tăng trưởng dao động từ 0,10–0,37, cho thấy việc cải thiện khả năng kháng bệnh không gây ảnh hưởng tiêu cực đến sinh trưởng.

• Chọn lọc được 521 cá thể thế hệ G1, trong đó có 419 cá thể thuộc nhóm chọn lọc và 102 cá thể đối chứng.

• Hiệu quả chọn lọc thế hệ đầu tiên đạt khoảng 13% đối với tính trạng kháng bệnh gan thận mủ và 7,5% đối với tính trạng tăng trưởng so với thế hệ G0.

• Tách chiết DNA từ nhóm cá mẫn cảm và nhóm cá kháng bệnh cao; xây dựng thư viện RAD-library và giải trình tự bằng công nghệ RAD-seq.

• Phân tích và xác định được 329 SNP tiềm năng liên kết với tính trạng kháng bệnh gan thận mủ, trong đó có 157 SNP chỉ xuất hiện ở nhóm cá kháng bệnh cao.

• Nuôi vỗ và sản xuất được 20 gia đình cá tra từ 50 cặp cá bố mẹ G0 được chọn lọc, với tỷ lệ sống trung bình đạt 82,5%.

• Tuyển lựa và chuyển giao 2.000 cá tra hậu bị cho Công ty TNHH Thủy sản Mừng Liên tại huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

Từ các kết quả đạt được, nhóm nghiên cứu cho rằng cần tiếp tục triển khai chương trình chọn giống dài hạn nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả chọn lọc và từng bước cung cấp cá bố mẹ kháng bệnh cho sản xuất. Bên cạnh đó, việc tiếp tục nghiên cứu phát triển các chỉ thị phân tử liên kết với tính trạng kháng bệnh gan thận mủ được xem là cơ sở quan trọng cho chọn giống theo hệ gen trong tương lai. Nhóm nghiên cứu cũng kiến nghị mở rộng quy mô các thí nghiệm cảm nhiễm, đồng thời tiếp tục đánh giá ảnh hưởng của điều kiện môi trường và độc lực vi khuẩn nhằm hoàn thiện quy trình chọn giống cá tra kháng bệnh phục vụ sản xuất bền vững.

Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 22036/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.

https://vista.gov.vn/vi/news/ket-qua-nghien-cuu-trien-khai/ung-dung-cong-nghe-sinh-hoc-chon-giong-ca-tra-pangasianodon-hypophthalmus-khang-benh-gan-than-mu-13265.html

More