Chi tiết tin - Sở Tư pháp
Một số chính sách pháp luật mới có hiệu lực từ tháng 10/2026
1. Ngày 24 tháng 8 năm 2026, Quốc hội đã ban hành Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16
Luật Phát triển đô thị quy định cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển thành phố là đô thị loại đặc biệt, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt. Trong đó, tại khoản 1, khoản 2 Điều 8 quy định về thí điểm cơ chế, chính sách như sau:
-Thành phố được quyết định thí điểm cơ chế, chính sách mới, khác với luật, nghị quyết của Quốc hội hoặc đối với những vấn đề chưa được pháp luật quy định để áp dụng tại Thành phố. Không thực hiện thí điểm cơ chế, chính sách trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại quốc gia, tôn giáo và lĩnh vực khác liên quan trực tiếp đến chủ quyền quốc gia theo quy định của pháp luật.
- Việc thí điểm cơ chế, chính sách phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây: Phù hợp với Hiến pháp, không trái với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; Không hạn chế quyền con người, quyền cơ bản của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh; bảo đảm công khai, minh bạch; Không phương hại đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại quốc gia; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; Không gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của cộng đồng, đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục; không làm ảnh hưởng đến chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc và chính sách tôn giáo của Nhà nước; Thời gian thí điểm không quá 05 năm và có thể được gia hạn không quá 05 năm.
Luật Phát triển đô thị có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 2026, trừ quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 63.
2. Ngày 23 tháng 4 năm 2026, Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng số 06/2022/QH15
Tại khoản 6 Điều 1 sửa đổi, bổ sung Điều 22 Luật Thi đua, khen thưởng số 06/2022/QH15 quy định về danh hiệu chiến sĩ thi đua Bộ, ban, ngành, tỉnh như sau:
- Danh hiệu chiến sĩ thi đua Bộ, ban, ngành, tỉnh để tặng cho cá nhân đạt các tiêu chuẩn sau đây: Có thành tích xuất sắc tiêu biểu được lựa chọn trong số những cá nhân có 03 lần liên tục được tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở”; có sáng kiến đã được áp dụng hiệu quả và có khả năng nhân rộng trong Bộ, ban, ngành, tỉnh hoặc có nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được đánh giá hiệu quả theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, có phạm vi ảnh hưởng trong Bộ, ban, ngành, tỉnh hoặc mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu có phạm vi ảnh hưởng trong toàn quân hoặc toàn lực lượng Công an nhân dân.
- Người đứng đầu Bộ, ban, ngành, tỉnh xem xét, công nhận hiệu quả và khả năng nhân rộng trong Bộ, ban, ngành, tỉnh của sáng kiến; xem xét, công nhận phạm vi ảnh hưởng trong Bộ, ban, ngành, tỉnh của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an xem xét, công nhận sự mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu có phạm vi ảnh hưởng trong toàn quân hoặc toàn lực lượng Công an nhân dân.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 2026.
3. Ngày 23 tháng 9 năm 2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 365/2026/NĐ-CP quy định về kinh doanh xuất, nhập khẩu gạo
Nghị định số 365/2026/NĐ-CP quy định về kinh doanh xuất, nhập khẩu thóc, gạo các loại (sau đây gọi chung là gạo). Hoạt động tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, chuyển khẩu, quá cảnh, gia công gạo cho nước ngoài; hoạt động xuất khẩu không vì mục đích thương mại, viện trợ, biếu, tặng gạo không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này. Trong đó, tại Điều 4 quy định về điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo:
- Thương nhân được thành lập, đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật được kinh doanh xuất khẩu gạo khi có ít nhất 01 kho chuyên dùng để chứa thóc, gạo và 01 cơ sở xay xát gạo đáp ứng quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.
- Kho chuyên dùng để chứa thóc, gạo và cơ sở xay xát gạo quy định tại khoản 1 Điều này có thể thuộc sở hữu của thương nhân hoặc do thương nhân thuê của tổ chức, cá nhân khác, có hợp đồng thuê bằng văn bản theo quy định của pháp luật và đảm bảo thời hạn của Giấy chứng nhận.
Thương nhân có Giấy chứng nhận không được cho thương nhân khác thuê để đề nghị cấp Giấy chứng nhận đối với các kho chuyên dùng để chứa thóc, gạo và cơ sở xay xát gạo đã được Bộ Công Thương cấp trong Giấy chứng nhận cho thương nhân.
Nghị định số 365/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 2026.
4. Ngày 03 tháng 9 năm 2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 342/2026/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại và Luật Quản lý ngoại thương về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Nghị định số 342/2026/NĐ-CP quy định chi tiết Điều 22 Luật Thương mại và Điều 5 Luật Quản lý ngoại thương về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Trong đó, tại khoản 1 Điều 5 quy định Giấy phép kinh doanh được cấp cho tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài để thực hiện các hoạt động sau:
- Thực hiện quyền phân phối bán lẻ hàng hóa, không bao gồm hàng hóa quy định tại điểm d khoản 4 Điều 9 Nghị định số 342/2026/NĐ-CP;
- Thực hiện quyền nhập khẩu, quyền phân phối bán buôn hàng hóa quy định tại điểm c khoản 4 Điều 9 Nghị định số 342/2026/NĐ-CP;
- Thực hiện quyền phân phối bán lẻ hàng hóa quy định tại điểm d khoản 4 Điều 9 Nghị định số 342/2026/NĐ-CP;
- Cung cấp dịch vụ logistics; trừ các phân ngành dịch vụ logistics mà Việt Nam có cam kết mở cửa thị trường trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; Cho thuê hàng hóa, không bao gồm cho thuê tài chính; trừ cho thuê trang thiết bị xây dựng có người vận hành;
- Cung cấp dịch vụ xúc tiến thương mại, không bao gồm dịch vụ quảng cáo; Cung cấp dịch vụ trung gian thương mại; Quản lý và vận hành nền tảng thương mại điện tử trung gian, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử, nền tảng thương mại tích hợp; Cung cấp dịch vụ tổ chức đấu thầu hàng hóa, dịch vụ.
Nghị định số 342/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 18 tháng 10 năm 2026.
5. Ngày 19 tháng 8 năm 2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 328/2026/NĐ-CP quy định phòng, chống tin giả, tin sai sự thật
Trong đó, tại Điều 3 Nghị định số 328/2026/NĐ-CP giải thích một số từ ngữ như sau:
- Tin giả, tin sai sự thật là thông tin không có thật hoặc có một phần sự thật xâm hại đến an ninh, uy tín, hình ảnh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức gồm các loại thông tin: Thông tin giả, thông tin sai sự thật, thông tin sai lệch, thông tin giả mạo, thông tin bịa đặt, thông tin vu khống, thông tin xuyên tạc.
- Thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật là thông tin có thể là tin giả, tin sai sự thật.
- Công bố tin giả, tin sai sự thật là công khai thông tin xác nhận là tin giả, tin sai sự thật, danh tính cá nhân, tổ chức phát ngôn, làm, lưu trữ, tàng trữ, đăng tải, phát tán, chia sẻ, bình luận tin giả, tin sai sự thật.
Đồng thời, tại Điều 8 quy trình xử lý tin giả, tin sai sự thật như sau: Phát hiện thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật; kiểm chứng, xác minh, làm rõ thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật; gắn nhãn tin giả, tin sai sự thật: Sau khi kết luận thông tin là tin giả, tin sai sự thật, đơn vị trực tiếp kiểm chứng gắn nhãn tin giả, tin sai sự thật; công bố, cảnh báo tin giả, tin sai sự thật: Cơ quan, đơn vị trực tiếp kiểm chứng, xác minh, làm rõ tin giả, tin sai sự thật công bố, cảnh báo thông tin phải tuân thủ pháp luật về tiếp cận thông tin; ngăn chặn, gỡ bỏ tin giả, tin sai sự thật; áp dụng các hình thức xử lý.
Nghị định số 328/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 05 tháng 10 năm 2026.
6. Ngày 22 tháng 08 năm 2026, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 70/2026/TT-BGDĐT quy định về quản lý và sử dụng học bạ số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và cơ sở giáo dục thường xuyên
Thông tư số 70/2026/TT-BGDĐT quy định về quản lý và sử dụng học bạ số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và cơ sở giáo dục thường xuyên, bao gồm: tạo lập và nội dung học bạ số; ký số và phát hành; khai thác và sử dụng; thu nhận, kết nối, chia sẻ, lưu trữ; bảo mật; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Trong đó, tại Điều 7 quy định đối với việc tạo lập học bạ số như sau: Mỗi người học thuộc đối tượng áp dụng của Thông tư số 70/2026/TT-BGDĐT được tạo lập một học bạ số duy nhất gắn với mã số hồ sơ học tập suốt đời của người học. Việc tạo lập học bạ số được thực hiện trên hệ thống thông tin, phần mềm quản lý hoặc nền tảng số đáp ứng yêu cầu kỹ thuật theo quy định. Dữ liệu dùng để tạo lập học bạ số phải được kiểm tra, đối chiếu, xác thực từ hồ sơ người học, dữ liệu định danh và dữ liệu quản lý giáo dục của cơ sở giáo dục. Việc tạo lập học bạ số được thực hiện theo từng năm học; thời điểm tạo lập trước ngày 30 tháng 6 hằng năm, trường hợp đặc biệt trước ngày 30 tháng 8 hằng năm; bảo đảm phù hợp với các hoạt động giáo dục tại địa phương. Học bạ số sau khi được ký số và phát hành không được chỉnh sửa trực tiếp trên bản đã phát hành, trừ trường hợp thu hồi và tạo lập lại theo quy định. Học bạ số của người học chuyển trường, tiếp nhận từ cơ sở giáo dục khác phải được kế thừa, đồng bộ và cập nhật trên cơ sở dữ liệu, hệ thống học bạ số của cơ sở giáo dục.
Thông tư số 70/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực thi hành kể từ ngày 08 tháng 10 năm 2026.
7. Ngày 18 tháng 8 năm 2026, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 04/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định về cơ chế, chính sách đặc thù thuộc thẩm quyền của Tòa án khi giải quyết, xét xử vi phạm pháp luật về đất đai quy định tại Nghị quyết số 29/2026/QH16 của Quốc hội
Nghị quyết số 04/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định về cơ chế, chính sách đặc thù thuộc thẩm quyền của Tòa án khi giải quyết, xét xử vi phạm pháp luật về đất đai quy định tại Nghị quyết số 29/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài (sau đây gọi là Nghị quyết số 29/2026/QH16). Về nguyên tắc thực hiện, tại Điều 2 Nghị quyết số 04/2026/NQ-HĐTP quy định:
- Vụ việc đã được áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù theo quy định tại Nghị quyết số 29/2026/QH16 mà người có hành vi vi phạm vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì Tòa án xem xét, áp dụng Nghị quyết số 29/2026/QH16 và Nghị quyết này để giải quyết, xét xử, nếu có đủ căn cứ.
- Vụ việc thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 29/2026/QH16 mà dự án, công trình đã hoàn thành nhưng chưa khắc phục hậu quả thiệt hại thì Tòa án không tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, hoãn phiên tòa, hoãn chấp hành hình phạt, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Nghị quyết số 29/2026/QH16 mà tiếp tục giải quyết, xét xử, thi hành án theo pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án.
- Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm trong đó có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai và bị xét xử trong cùng một vụ án thì chỉ áp dụng Nghị quyết số 29/2026/QH16 và Nghị quyết này đối với hành vi vi phạm pháp luật về đất đai, nếu có đủ căn cứ, đối với hành vi vi phạm khác thì xử lý theo quy định của pháp luật.
- Trong một vụ án có nhiều bị can, bị cáo trong đó có bị can, bị cáo thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về đất đai thì chỉ áp dụng Nghị quyết số 29/2026/QH16 và Nghị quyết này đối với bị can, bị cáo có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai, nếu có đủ căn cứ, đối với bị can, bị cáo khác thì xử lý theo quy định của pháp luật.
Nghị quyết số 04/2026/NQ-HĐTP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 10 năm 2026.
8. Ngày 21 tháng 9 năm 2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công
Tại Điều 4 Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định về đào tạo nghề luật sư cho người muốn trở thành luật sư công như sau:
- Người có Bằng cử nhân luật hoặc thạc sĩ luật được tham dự khóa đào tạo nghề luật sư tại cơ sở đào tạo nghề luật sư để trở thành luật sư công.
- Thời gian đào tạo nghề luật sư là 12 tháng. Người hoàn thành chương trình đào tạo nghề luật sư được cơ sở đào tạo nghề luật sư cấp giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư.
- Những người sau đây được miễn đào tạo nghề luật sư để trở thành luật sư công: Giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật; tiến sĩ luật; đã từng là thẩm phán Tòa án nhân dân bậc 2, bậc 3; kiểm sát viên trung cấp, kiểm sát viên cao cấp; điều tra viên trung cấp, điều tra viên cao cấp; chấp hành viên cao cấp; thẩm tra viên cao cấp; đã từng là chấp hành viên trung cấp, thẩm tra viên chính; chuyên viên cao cấp, pháp chế viên cao cấp, thanh tra viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật; chuyên viên chính, pháp chế viên chính, thanh tra viên chính, nghiên cứu viên chính, giảng viên chính trong lĩnh vực pháp luật; đã từng là trợ giúp viên pháp lý và có giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư.
Nghị định số 364/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2026 đến ngày Nghị quyết số 24/2026/QH16 hết hiệu lực thi hành.
9. Ngày 16 tháng 9 năm 2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 45/2026/QĐ-TTg quy định thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng
Quyết định này quy định thi hành khoản 2 Điều 12, khoản 3 Điều 81, khoản 7 Điều 83, khoản 3 Điều 96 Luật Thi đua, khen thưởng. Tại Điều 4 quy định thẩm quyền khen thưởng, trình khen thưởng đối với các hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện:
- Đối với các Hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ: Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khen thưởng và trình cấp trên khen thưởng đối với các Hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở trung ương (trừ các Hội quần chúng có Đảng bộ thuộc Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương). Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khen thưởng và trình cấp trên khen thưởng đối với các Hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở địa phương.
- Đối với các hội khác, quỹ xã hội, quỹ từ thiện: Người đứng đầu bộ, ban, ngành quản lý ngành, lĩnh vực khen thưởng và trình cấp trên khen thưởng đối với các hội ở trung ương, quỹ xã hội, quỹ từ thiện hoạt động phạm vi toàn quốc hoặc liên tỉnh sau khi lấy ý kiến thống nhất của Bộ Nội vụ. Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Bộ Nội vụ có ý kiến trả lời bằng văn bản. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khen thưởng và trình cấp trên khen thưởng đối với các hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện ở địa phương.
Quyết định số 45/2026/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 2026.
10. Ngày 25 tháng 9 năm 2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 368/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thi đua, khen thưởng
Tại Điều 4 Nghị định số 368/2026/NĐ-CP quy định nguyên tắc xét danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng:
- Khen thưởng phải căn cứ vào điều kiện, tiêu chuẩn và thành tích đạt được, không nhất thiết phải có hình thức khen thưởng mức thấp mới được khen thưởng mức cao hơn. Cấp có thẩm quyền khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng đối với các trường hợp đủ điều kiện, tiêu chuẩn, thủ tục, hồ sơ theo quy định. Chỉ dùng kết quả khen thưởng công trạng làm căn cứ để xét thành tích khen thưởng công trạng cho lần tiếp theo.
- Chưa khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng cho cá nhân, tập thể trong thời gian cơ quan có thẩm quyền đang xem xét thi hành kỷ luật hoặc điều tra, thanh tra, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo, có vấn đề tham nhũng, tiêu cực được báo chí nêu đang được xác minh làm rõ. Trường hợp cá nhân, tập thể bị kỷ luật, sau khi chấp hành xong thời gian kỷ luật, cá nhân, tập thể lập được thành tích thì thành tích khen thưởng được tính từ thời điểm chấp hành xong thời gian thi hành kỷ luật. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền có kết luận thanh tra, kiểm tra hoặc văn bản đã xác minh làm rõ cá nhân, tập thể không có sai phạm hoặc không có dấu hiệu vi phạm thì cấp có thẩm quyền thực hiện việc khen thưởng hoặc đề nghị khen thưởng theo quy định.
- Thời gian nghỉ thai sản đối với cá nhân theo quy định của pháp luật được tính là thời gian công tác để xét tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng. Khi có nhiều cá nhân, tập thể cùng đủ điều kiện, tiêu chuẩn thì lựa chọn cá nhân nữ hoặc tập thể có tỷ lệ nữ từ 70% trở lên để xét khen thưởng.
- Thời gian giữ chức vụ để xét khen thưởng quá trình cống hiến đối với cá nhân là nữ lãnh đạo, quản lý được giảm 1/3 thời gian so với quy định chung. Trường hợp cá nhân nữ lãnh đạo, quản lý thuộc đối tượng được quy định tuổi nghỉ hưu cao hơn theo quy định của pháp luật thì thời gian để xét khen thưởng quá trình cống hiến thực hiện theo quy định chung.
Nghị định số 368/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 2026.
11. Ngày 21 tháng 8 năm 2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 335/2026/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội
Nghị định số 335/2026/NĐ-CP quy định về chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng; nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng; trợ giúp khẩn cấp và chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội. Trong đó, tại Điều 4 Nghị định số 335/2026/NĐ-CP quy định về mức chuẩn trợ giúp xã hội như sau:
- Mức chuẩn trợ giúp xã hội là căn cứ để xác định mức trợ cấp xã hội, mức hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng; mức chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở chăm sóc người cao tuổi, cơ sở chăm sóc người khuyết tật, cơ sở chăm sóc trẻ em và cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng khác (sau đây gọi chung là cơ sở trợ giúp xã hội) và các mức trợ giúp xã hội khác.
- Mức chuẩn trợ giúp xã hội là 540.000 đồng/tháng.
- Trường hợp điều kiện kinh tế - xã hội địa phương bảo đảm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định: Mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức trợ giúp xã hội áp dụng trên địa bàn cao hơn mức chuẩn trợ giúp xã hội và mức trợ giúp xã hội quy định tại Nghị định số 335/2026/NĐ-CP; đối tượng khó khăn khác chưa quy định tại Nghị định số 335/2026/NĐ-CP được hưởng chính sách trợ giúp xã hội.
Nghị định số 335/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 05 tháng 10 năm 2026.
Phương Nhung
- NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT HỘ TỊCH NĂM 2026 (30/09/2026)
- MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 301/2026/NĐ-CP NGÀY 30/7/2026 CỦA CHÍNH PHỦ (30/09/2026)
- Một số chính sách pháp luật mới có hiệu lực từ tháng 9/2026 (08/09/2026)
- Một số chính sách pháp luật mới có hiệu lực từ tháng 8/2026 (10/08/2026)
- Một số quy định liên quan đến Bảo hiểm y tế có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 (16/07/2026)
- Một số chính sách pháp luật mới có hiệu lực từ tháng 7/2026 (07/07/2026)
- Một số chính sách pháp luật mới có hiệu lực từ tháng 6/2026 (16/06/2026)
- Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 01/4/2026 của Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới (18/05/2026)
- Ngày 13 tháng 02 năm 2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 58/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; quản lý và sử dụng con dấu; quản lý, sử dụng pháo; quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú, Luật Căn cước. (18/05/2026)
- Một số chính sách pháp luật mới có hiệu lực từ tháng 5/2026 (06/05/2026)









