Quảng Trị: Đưa Nghị quyết 57-NQ/TW vào cuộc sống
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đang mở ra không gian phát triển mới cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Với quyết tâm chính trị cao và cách tiếp cận lấy hiệu quả thực tiễn làm trung tâm, tỉnh Quảng Trị đang từng bước đưa Nghị quyết đi vào cuộc sống bằng những giải pháp đồng bộ, phù hợp với điều kiện thực tiễn địa phương.

TS. Đặng Ngọc Tuấn, TUV, Giám đốc Sở KH&CN tỉnh Quảng Trị phát biểu tại phiên họp quý I/2026 của Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, Đề án 06 và Ban Chỉ đạo về dữ liệu tỉnh Quảng Trị. Ảnh: Văn Chung
Chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và phát triển khoa học, công nghệ đang trở thành yếu tố quan trọng định hình năng lực cạnh tranh và chất lượng quản trị của mỗi quốc gia, địa phương trong kỷ nguyên số. Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia không chỉ mở ra định hướng phát triển mới cho đất nước, mà còn tạo cơ hội để các địa phương tái cấu trúc mô hình tăng trưởng, đổi mới phương thức quản trị và nâng cao năng lực cạnh tranh trong giai đoạn phát triển mới.
Đối với tỉnh Quảng Trị, việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh tỉnh đang vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp sau sắp xếp tổ chức bộ máy. Trong điều kiện đó, chuyển đổi số không còn chỉ là xu hướng phát triển mà đã trở thành điều kiện quan trọng để bảo đảm bộ máy vận hành liên thông, hiệu quả, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn.
Với tinh thần chủ động, quyết liệt và lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo, tỉnh Quảng Trị đã sớm cụ thể hóa các mục tiêu của Nghị quyết số 57-NQ/TW thành các chương trình hành động, kế hoạch triển khai phù hợp với điều kiện thực tiễn địa phương; xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.
Quyết tâm chính trị chuyển hóa thành hành động
Quảng Trị xác định việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành khoa học và công nghệ, mà là yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, quản trị và phát triển của toàn hệ thống chính trị. Tinh thần xuyên suốt là chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển; lấy dữ liệu làm nền tảng điều hành; lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ; lấy hiệu quả thực chất làm thước đo trong tổ chức thực hiện.
Việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW được xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số gắn với mục tiêu tăng trưởng kinh tế của địa phương. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, tạo động lực thúc đẩy phát triển trong giai đoạn mới. Quyết tâm chính trị đó được cụ thể hóa thông qua hệ thống chương trình, kế hoạch hành động đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở; phân công rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, rõ sản phẩm và rõ thẩm quyền theo nguyên tắc “6 rõ”.
Từ năm 2025 đến những tháng đầu năm 2026, tỉnh Quảng Trị đã xây dựng chương trình, kế hoạch hành động và nhiều văn bản chỉ đạo triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW trên địa bàn tỉnh; kịp thời điều chỉnh, bổ sung nội dung phù hợp với chỉ đạo của Trung ương và yêu cầu thực tiễn, bảo đảm tổ chức thực hiện thống nhất, hiệu quả. Cùng với đó, tỉnh đã thành lập các Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của tỉnh; các quy chế làm việc, chương trình công tác và nội dung phục vụ các phiên họp được chuẩn bị đồng bộ, bảo đảm hoạt động chỉ đạo, điều hành xuyên suốt từ tỉnh đến cơ sở.
Một trong những yêu cầu mới đặt ra đối với Quảng Trị sau sắp xếp tổ chức bộ máy là chuyển từ mô hình quản lý nhiều tầng nấc sang mô hình điều hành trực tiếp tỉnh - xã. Yêu cầu đó đòi hỏi phải hình thành phương thức quản trị mới dựa trên dữ liệu số, hệ thống số và khả năng liên thông thời gian thực giữa các cấp chính quyền.
Đối với Quảng Trị, chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu phát triển mà còn đang định hình phương thức vận hành mới của bộ máy quản trị địa phương. Theo đó, chuyển đổi số không chỉ nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công mà còn đóng vai trò hạ tầng cốt lõi của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Tỉnh tập trung xây dựng các hệ thống dùng chung, chuẩn hóa và kết nối các cơ sở dữ liệu quan trọng; thúc đẩy xử lý công việc trên môi trường số; nâng cao khả năng giám sát, điều hành và ra quyết định dựa trên dữ liệu nhằm bảo đảm bộ máy vận hành thông suốt, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Trong quá trình triển khai, tỉnh đặc biệt chú trọng việc cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW thành các chương trình hành động, kế hoạch và nhiệm vụ có tính khả thi, bám sát yêu cầu phát triển thực tiễn của địa phương.
Nhiều văn bản mang tính định hướng chiến lược đã được ban hành nhằm thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh, như: Chương trình hành động số 06-CTr/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ngày 10/12/2025 về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trên các lĩnh vực trọng tâm gồm chính quyền số, kinh tế số và xã hội số; Kế hoạch hành động số 09-KH/TU ngày 31/7/2025, xác định rõ 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm: hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng số, đào tạo nguồn nhân lực, thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, xây dựng xã hội số; Kế hoạch số 635/KH-UBND ngày 22/8/2025 về triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 71/NQ-CP; Kế hoạch số 682/KH-UBND ngày 27/8/2025 về triển khai thực hiện Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW ngày 19/6/2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về thúc đẩy chuyển đổi số liên thông, đồng bộ, nhanh, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trên địa bàn tỉnh Quảng Trị; Kế hoạch số 1334/KH-UBND ngày 10/10/2025 về triển khai hạ tầng 5G và IoT trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp đến năm 2026; Kế hoạch số 172/KH-UBND ngày 22/7/2025 về triển khai thực hiện Phong trào “Bình dân học vụ số” trên địa bàn tỉnh Quảng Trị; Kế hoạch số 1125/KH-UBND ngày 25/9/2025 về triển khai Thỏa thuận hợp tác về Chuyển đổi số tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2025-2030; Kế hoạch số 2308/KH-UBND ngày 09/12/2025 về nâng cao xếp hạng Chỉ số Chuyển đổi số (DTI) tỉnh Quảng Trị năm 2025; Quyết định số 1160/QĐ-UBND ngày 02/8/2025 về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tỉnh Quảng Trị; Quyết định số 656/QĐ-UBND ngày 12/02/2026 về phê duyệt Khung kiến trúc số tỉnh Quảng Trị; Quyết định số 808/QĐ-UBND ngày 10/3/2026 về thành lập Ban Chỉ đạo về dữ liệu tỉnh Quảng Trị.
Cùng với việc đổi mới phương thức quản trị, Quảng Trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới của địa phương. Tỉnh ưu tiên thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong các lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế như nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng, logistics, du lịch, kinh tế cửa khẩu và phát triển kinh tế số.
Đồng thời, tỉnh chú trọng thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các nền tảng số trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo từng bước được hình thành theo hướng gắn kết giữa cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và tổ chức khoa học và công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế địa phương.
Việc triển khai Nghị quyết số 57 -NQ/TW đã được cụ thể hóa đồng bộ trong toàn hệ thống chính trị khi 100% các sở, ban, ngành và UBND các xã, phường, đặc khu đã thành lập Ban Chỉ đạo; các địa phương đều xây dựng kế hoạch, chương trình hành động, bảo đảm triển khai hiệu quả Nghị quyết.
Trên nền tảng thể chế và bộ máy chỉ đạo được kiện toàn, chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh đã có bước phát triển rõ nét trên nhiều lĩnh vực.

Hội nghị chuyển đổi số năm 2025 với chủ đề “Kinh nghiệm quốc tế trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hàm ý cho Việt Nam trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị” do Sở KH&CN tỉnh Quảng Trị tổ chức. Ảnh: Văn Chung.
Chuyển đổi số tạo chuyển biến toàn diện
Xác định chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, gắn với việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tỉnh Quảng Trị đã tập trung đầu tư hạ tầng số, dữ liệu số, từng bước hình thành mô hình chuyển đổi số trên 4 trụ cột: cơ quan đảng số, chính quyền số, kinh tế số, xã hội số.
Từ năm 2025 đến nay, hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tỉnh đã hoàn thành tích hợp 100% dịch vụ công trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, đáp ứng mô hình Cổng Dịch vụ công quốc gia trở thành điểm “một cửa số” tập trung. Toàn tỉnh hiện có 1.087 dịch vụ công trực tuyến toàn trình và 1.082 dịch vụ công trực tuyến một phần. Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt 77,67%, tỷ lệ xử lý đúng hạn đạt 98,31%; tỷ lệ số hóa hồ sơ và kết quả giải quyết TTHC đạt 94,52%. Tại các cơ quan hành chính nhà nước, 100% văn bản điện tử được phát hành qua mạng internet và ký số; các hệ thống phần mềm quản lý, cơ sở dữ liệu chuyên ngành được duy trì và nâng cấp thường xuyên. Qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công việc, tăng tính minh bạch trong quản lý và thúc đẩy cải cách hành chính. Các cơ sở dữ liệu chuyên ngành, dữ liệu liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp cũng được liên thông, giúp hoạt động nghiệp vụ, giải quyết các yêu cầu của người dân, doanh nghiệp được thực hiện nhanh chóng. Hệ thống phòng họp trực tuyến được trang bị từ tỉnh đến 78/78 xã, phường, đặc khu giúp công tác chỉ đạo, điều hành được thực hiện kịp thời, hiệu quả. Trí tuệ nhân tạo (AI) từng bước được ứng dụng trong phân tích dữ liệu, hỗ trợ lãnh đạo ra quyết định và nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành. Trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, AI từng bước được ứng dụng để hỗ trợ cán bộ, công chức, viên chức phân tích thông tin, số liệu, soạn thảo văn bản và tổng hợp báo cáo.
Hạ tầng số được xác định là yếu tố cốt lõi để thúc đẩy chuyển đổi số. Thời gian qua, các doanh nghiệp viễn thông trên địa bàn đã tập trung đầu tư, nâng cấp mạnh mẽ hạ tầng số. 100% xã, phường, đặc khu đã được phủ sóng di động và internet tốc độ cao. Tỷ lệ phủ sóng mạng di động băng rộng 4G đạt khoảng 99,5% dân số. Tỷ lệ phủ sóng mạng 5G đạt khoảng 74,2%, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển hạ tầng số trên địa bàn tỉnh. Hạ tầng số được đầu tư đồng bộ, qua đó từng bước mở rộng khả năng tiếp cận các nền tảng số và dịch vụ số của người dân, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện các mục tiêu chuyển đổi số, bảo đảm người dân ở vùng sâu, vùng xa cũng có cơ hội tiếp cận thông tin và dịch vụ số một cách bình đẳng. Việc phổ cập điện thoại thông minh và internet băng rộng đã tạo điều kiện thuận lợi để triển khai các dịch vụ số, từ chính quyền số, y tế, giáo dục đến thương mại điện tử và du lịch thông minh.
Công tác triển khai hạ tầng dữ liệu số của tỉnh đã có bước phát triển quan trọng khi các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu dùng chung đi vào hoạt động ổn định, thông suốt. Nhiều cơ sở dữ liệu chuyên ngành của tỉnh đã được số hóa và từng bước liên thông với Trung ương, trong đó dữ liệu chuyên ngành của nhiều sở, ban, ngành đã được tích hợp với trục liên thông dữ liệu cấp tỉnh. Thông qua nền tảng LGSP, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tỉnh đã hoàn thành kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Đồng thời, hệ thống cũng kết nối với nền tảng định danh và xác thực điện tử quốc gia (VNeID) cùng Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Trong đó, Công an tỉnh giữ vai trò nòng cốt trong quản lý, vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và bảo đảm an ninh, an toàn các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu trên địa bàn tỉnh. Ngành Nội vụ tập trung xây dựng, chuẩn hóa dữ liệu phục vụ quản lý đội ngũ cán bộ và lưu trữ nhà nước. Ngành Tư pháp đã xây dựng và vận hành tương đối đầy đủ các cơ sở dữ liệu chuyên ngành tư pháp sau sáp nhập tỉnh. Ngành Tài chính - Thuế đã đẩy mạnh chuẩn hóa, số hóa dữ liệu phục vụ quản lý tài chính và hoạt động của doanh nghiệp. Ngành Xây dựng tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu phát triển đô thị, quy hoạch và dữ liệu không gian phục vụ quản lý xây dựng và đô thị thông minh. Ngành Y tế đi đầu về số hóa dữ liệu chuyên ngành. Hiện toàn bộ 28 bệnh viện trên địa bàn tỉnh đã công bố triển khai bệnh án điện tử, đạt tỷ lệ 100%. Ứng dụng công dân số QUANGTRI-S cũng từng bước trở thành kênh tương tác hiệu quả giữa chính quyền và người dân, giúp tăng cường tương tác hai chiều.
Tỷ lệ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số trong hoạt động sản xuất, kinh doanh ngày càng tăng, đặc biệt trong các lĩnh vực thương mại điện tử, du lịch, logistics và dịch vụ công. Lĩnh vực thanh toán không dùng tiền mặt được mở rộng, các trường học và cơ sở y tế trên địa bàn đã áp dụng hình thức thanh toán học phí, viện phí trực tuyến qua ngân hàng hoặc ví điện tử; các doanh nghiệp sử dụng hóa đơn điện tử, góp phần tăng hiệu quả quản lý thuế và minh bạch hóa giao dịch.
Hoạt động xã hội số lan tỏa đến từng cơ sở, cộng đồng trên toàn địa bàn tỉnh. Phong trào “Bình dân học vụ số” được triển khai tại nhiều địa phương, theo phương châm hướng dẫn trực tiếp đến từng hộ dân, giúp người dân nâng cao nhận thức và tiếp cận dịch vụ số. Toàn tỉnh có trên 1.800 Tổ Công nghệ số cộng đồng đã trực tiếp hướng dẫn người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt, ứng dụng số trong đời sống. Phong trào “Bình dân học vụ số” không chỉ góp phần nâng cao nhận thức, kỹ năng số cho người dân mà còn góp phần hình thành xã hội số và nâng cao năng lực thích ứng số trong cộng đồng.
Quá trình hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngoài cơ chế, chính sách và đầu tư hạ tầng, nguồn nhân lực phục vụ chuyển đổi số của tỉnh Quảng Trị tiếp tục được quan tâm thông qua việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Hiện nay, 96,5% cán bộ, công chức cấp tỉnh đã được bồi dưỡng kỹ năng số. Ở cấp xã, tỷ lệ này đạt 70,5%. Đồng thời, khoảng 71,5% cán bộ, công chức, viên chức đã làm chủ kỹ năng số trong xử lý công việc và quản lý, điều hành. Đây là nguồn lực nhân sự quan trọng để thúc đẩy chuyển đổi số trong cơ quan đảng, chính quyền số, kinh tế số và xã hội số.
Trong toàn bộ quá trình triển khai chuyển đổi số, tỉnh xác định người dân và doanh nghiệp vừa là trung tâm, vừa là chủ thể của quá trình chuyển đổi số. Mọi nhiệm vụ, giải pháp triển khai đều hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng phục vụ, giảm chi phí xã hội, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp trong tiếp cận dịch vụ công, khai thác dữ liệu và ứng dụng công nghệ số vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Việc phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số được triển khai theo hướng thực chất, lấy mức độ hài lòng của người dân và hiệu quả phục vụ doanh nghiệp làm thước đo quan trọng trong đánh giá kết quả thực hiện.

Lễ ra mắt Hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI) phục vụ công việc hành chính, robot lễ tân phục vụ hành chính công tỉnh Quảng Trị. Ảnh: Mai Anh.
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tạo động lực phát triển mới
Thực hiện tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, tỉnh xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là nền tảng then chốt cho phát triển nhanh và bền vững. Thực tế cho thấy, hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh có nhiều tiến bộ, đóng góp thiết thực cho sản xuất và đời sống.
Hiện toàn tỉnh đã triển khai 1 nhiệm vụ cấp Nhà nước, 2 nhiệm vụ thuộc Chương trình Phát triển tài sản trí tuệ, 97 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh, trong đó, 37 nhiệm vụ đã nghiệm thu, vượt 48% kế hoạch đề ra trong năm, trên 95% nhiệm vụ đang triển khai đúng tiến độ. Các nhiệm vụ KH&CN tập trung vào các lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống và sản xuất như: nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, thích ứng biến đổi khí hậu, phát triển sản phẩm đặc trưng địa phương, năng lượng tái tạo, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, quản lý tài nguyên - môi trường và dữ liệu đất đai; chuyển đổi số trong giáo dục, y tế, du lịch, hành chính công; ứng dụng AI, IoT và dữ liệu lớn trong đô thị thông minh, nông nghiệp thông minh và y tế số.
Tỷ lệ ứng dụng kết quả nghiên cứu KH&CN đạt trên 50%, nhiều sản phẩm được doanh nghiệp tiếp nhận và thương mại hóa hiệu quả, nổi bật là bảo tồn giống bản địa, phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp - OCOP, chế biến sâu nông sản, ứng dụng AI, IoT và dữ liệu lớn, thương mại điện tử và nghiên cứu vật liệu nano.
Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của tỉnh từng bước được hình thành và mở rộng. Hiện nay, Quảng Trị có 10 doanh nghiệp KH&CN và 52 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Nhiều sản phẩm đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp đã được thương mại hóa. Các doanh nghiệp đã ứng dụng các giải pháp AI, IoT, Blockchain, phân tích dữ liệu lớn để tối ưu sản xuất, quản lý chuỗi cung ứng và truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Nhiều mô hình sản xuất thông minh được áp dụng như mô hình nuôi tôm công nghệ cao, nông nghiệp sạch, an toàn đang góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và gia tăng giá trị kinh tế địa phương. Mô hình liên kết “ba nhà” (Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp) tiếp tục triển khai và mở rộng, gắn nghiên cứu với ứng dụng và thương mại hóa sản phẩm. Tỉnh triển khai các hoạt động hỗ trợ, đào tạo về đổi mới sáng tạo cho doanh nghiệp, thanh niên, sinh viên; tổ chức các cuộc thi khởi nghiệp hằng năm đã thu hút đông đảo các tầng lớp tham gia, tạo môi trường để nhiều ý tưởng đổi mới sáng tạo hình thành và phát triển và được ứng dụng hiệu quả trong thực tiễn.
Thực hiện các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về chính sách hỗ trợ sáng tạo khoa học, đổi mới công nghệ và một số chính sách hỗ trợ ứng dụng, nhân rộng các kết quả KH&CN trên địa bàn tỉnh, đến nay, tỉnh Quảng Trị đã hỗ trợ cho trên 200 lượt tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp với tổng kinh phí trên 7 tỷ đồng, qua đó góp phần thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống; khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.
Thực tiễn cho thấy, hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của tỉnh thời gian qua không chỉ tạo ra các sản phẩm nghiên cứu ứng dụng có giá trị kinh tế, mà còn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo địa phương.
Bên cạnh kết quả đạt được, trong thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của tỉnh Quảng Trị vẫn còn những khó khăn, hạn chế như hạ tầng số ở vùng sâu vùng xa chưa đồng đều; thiết bị tại cấp xã còn thiếu và lạc hậu; nhân lực công nghệ thông tin chưa được bổ sung kịp thời; việc tích hợp, chuẩn hóa dữ liệu một số lĩnh vực còn chậm; hoạt động của Tổ Công nghệ số cộng đồng chưa đồng bộ về nguồn lực và công cụ; thiếu nhân lực chuyên sâu về chuyển đổi số, đặc biệt ở cấp cơ sở; hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của tỉnh chưa phát triển đồng bộ. Để Nghị quyết số 57-NQ/TW thật sự đi vào cuộc sống, cần tiếp tục tháo gỡ kịp thời các điểm nghẽn, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực và thúc đẩy mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng cho phát triển nhanh và bền vững của tỉnh trong giai đoạn mới.
Với quyết tâm chính trị cao, tư duy đổi mới và cách tiếp cận lấy hiệu quả thực tiễn làm trung tâm, Quảng Trị đang từng bước đưa Nghị quyết số 57-NQ/TW đi vào cuộc sống bằng những hành động cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tiễn địa phương.
Trong giai đoạn tới, tỉnh tiếp tục xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là công cụ hỗ trợ quản lý, mà là trụ cột chiến lược để đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực quản trị, cải thiện chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp, mở ra dư địa cho phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên số.
Việc triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW sẽ góp phần quan trọng xây dựng Quảng Trị phát triển theo hướng hiện đại, đổi mới sáng tạo, quản trị số và phát triển bền vững, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Đây cũng là cơ sở quan trọng để Quảng Trị tạo dựng năng lực cạnh tranh mới, thích ứng với yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng. Đồng thời, đây cũng là yêu cầu tất yếu để Quảng Trị tiếp tục đổi mới phương thức quản trị và nâng cao chất lượng phục vụ trong giai đoạn phát triển mới.
TS. ĐẶNG NGỌC TUẤN
TUV, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị
Nguồn: Đặc san Khoa học và Công nghệ
- Gắn nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với thực tiễn sản xuất và đời sống (21/05/2026)
- Việt Nam lần đầu vào Top 50 hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu (21/05/2026)
- Động lực chính của mô hình tăng trưởng mới (19/05/2026)
- Hội thảo khoa học: “Đổi mới quản lý, nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo theo Nghị quyết số 57-NQ/TW, Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 và các quy định mới” (15/05/2026)
- Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức lớp bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng số cho cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh Quảng Trị (13/05/2026)
- Nghiệm thu cấp tỉnh nhiệm vụ KH&CN: “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về khu thương mại tự do, đề xuất một số cơ chế, chính sách áp dụng tại khu thương mại tự do thuộc khu kinh tế thương mại xuyên biên giới chung Lao Bảo - Densavan và khu vực cảng Mỹ Thủy thuộc khu kinh tế Đông Nam” (13/05/2026)
- Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược (11/05/2026)
- Tăng tốc phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số và Đề án 06 trong năm 2026 (07/05/2026)
- Hưởng ứng Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam (18/5) (07/05/2026)
- Hội thảo “Đổi mới quản lý, nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo theo Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị; Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và các quy định mới”. (06/05/2026)
















